Chùa Mía: Vẻ đẹp vùng đất cổ Đường Lâm

Chùa Mía cách trung tâm Hà Nội khoảng 45 km về phía Tây. Chùa được tọa lạc tại sườn đồi thuộc thôn Đông Sàng, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội.

Đất cổ Đường Lâm

Đường Lâm vốn là mảnh đất lịch sử đã nổi tiếng với các tên tuổi như: Phùng Hưng, Ngô Quyền, nhà đối ngoại đại tài Giang Văn Minh…Nay lại được nhiều người biết và đặt chân tới nhờ có tổ đình “Sùng Nghiêm”.

Chùa Mía được xây dựng từ mãi xa xưa. Đến thế kỷ 17, Chùa bị hoang phế điêu tàn. Năm 1632 Cung phi Nguyễn Thị Ngọc Dong đã đứng ra khuyến mộ thiện nam tín nữ các làng Đông Sàng, Mông Phụ, Cam Thịnh, Cam Toàn… thuộc tổng Cam Giá (tức Tổng Mía) cùng nhau tôn tạo lại. Cung Phi Ngọc Dung còn gọi là Ngô Thị Ngọc Diệu, là phi tần trong phủ chúa Trịnh Tráng (1623 – 1657) vốn là người làng Nam Nguyễn (Nam An) trong Tổng Mía. Nhân dân trong vùng mến mộ uy đức của Bà, đã tạc tượng đưa vào phối thờ ở Chùa và còn có đền riêng. Vì tôn kính nên gọi là “Bà Chúa Mía.” Về sau Chùa được tu bổ nhiều lần, song đến nay quy mô tôn tạo thời Bà chúa Mía dường như vẫn được bảo tồn nguyên vẹn. Các tòa Tam Quan, Chính Điện, Thượng Điện, Nhà Tổ, hành lang san sát nối kề, trong ngoài bao bọc, ngang dọc đan xen, tọa dáng thành hình chữ Mục.

Lối vào Chùa Mía.

Khách đến thăm Chùa, đi qua khu chợ làng Mía tấp nập đông vui “họp cả quanh năm bốn thì”, là nhìn thấy cửa Tam Quan. Tầng trên của Tam Quan treo lơ lửng một quả chuông cổ đúc từ năm Cảnh Hưng thứ 6 (1745) đời Lê và một chiếc Khánh đồng đúc năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) đời Nguyễn. Sát ngay cạnh Tam Quan có một cây đa cổ thụ tán phủ rườm rà, cành lá xum xuê rễ cây đâm ra tua tủa bám sâu vào lòng đất, dễ chừng cây đã sống đến mấy trăm năm.

“Trải bao thế kỷ dầm mưa nắng

Vẫn đứng an nhiên gác cửa Thiền”

Chùa Mía.

Phía trong gốc đa là một khoản không thoáng đãng thanh tịch, yên tĩnh lạ thường. Đúng như nhận xét của người xưa:

“Chùa cổ thâm nghiêm, chỉ tiếp khói mây làm lữ khách

Vườn rừng rộng rãi, chỉ nương hoa cỏ biết xuân thu.”

Tòa cửu phẩm liên hoa tại chùa Mía.

Ngoài kia họp chợ đông vui là thế, trong này cảnh Thiền u huyền là thế, thật là “chỉ cách một bước chân là xa hẳn hồng trần.”

Đỉnh đồi cùng ngọn đa cổ thụ là tòa bảo Tháp Cửu Phẩm Liên Hoa. Tòa Tháp mới được xây dựng gần đây để thờ vọng Xá Lợi Đức Phật, và cũng là ngọn bút kình thiên bổ túc và trấn giữ cho mạch văn ở làng quê Đông Sàng này. Lần theo một lối đi lát gạch cổ, rêu xanh lấm tấm, đến Bát Nhã môn để vào nội điện:

“Men tho lối cũ thăm Thiền Viện

Nghe tiếng chim kêu ngắm cỏ hoa.”

Qua khỏi Bát Nhã môn liền thấy một tòa Cổ Sái trang nghiêm:

“Lâu đài lóng lán thêm huyền diệu

Chuông mõ nhịp nhàng vẽ tịch u.”

Động Quán Âm Nam Hải. Đây là một bức tượng thuộc loại quý hiếm, ít thấy trong các chùa ở miền Bắc cũng như cả nước.

Khu nội điện gồm Tiền Đường, Đại Hùng Bảo Điện, Thượng Điện…. được cấu trúc theo kiểu “Nội công ngoại quốc” trong thật bề thế, đủ để phô diễn mọi vẻ uy nghi chốn Phật đường. Bề ngoài là Tiền Đường cao ráo thoáng đạt, vốn là nơi để khách thập phương dừng chân soạn lễ, chỉnh đốn tư thế trước khi lên Chính Điện chiêm bái Tam Bảo. Nay mới đặt thêm Ban thờ Mẫu. Phía trái Tiền Đường dựng một tấm bia lớn đặt trên lưng rùa, lòng bia ghi rõ niên đại Đức Long thứ 6 (1632) đời Lê. Đây là một tấm bia có kích cở lớn nhất và cũng là bia có niên đại cổ nhất ở khu vực Chùa. Trán bia có chạm hình lưỡng long chầu nguyệt. Phía dưới là đài sen rực rỡ. Diềm bia chạm hoa cúc liền sát nhau đan thành dây leo bao phủ. Nét khắc mềm mại uyển chuyển, càng làm Tăng thêm vẽ uy nghi cho những hàng chữ Hán đang tung hoành ngang dọc trên bia. Bên trong là tòa Đại Hùng Bảo Điện đồ sộ. Tượng thờ được bài trí trang nghiêm, khói hương nghi ngút đan quyện với tiếng chuông ngân đã giúp khách viếng thăm hình dung được phần nào quang cảnh Tây Thiên Linh Thứu. Trong cùng là Tòa Thượng Điện, nơi đặt tòa kim cương của Tam Thế Phật, hai bên là tả hữu hành lang thờ Thập Bát La Hán.

Tại chùa Thượng, người ta còn thấy các động bằng đất đắp, trong và xung quanh các động có khá nhiều tượng.

Chùa được làm bằng nhiều loại gỗ quý. Nhiều bức được chạm khắc công phu như hình tứ linh, hình hoa lá. Bức nào cũng tinh tế gợi cảm, huyền diệu vô cùng. Đáng lưu ý nhất là một số pho tượng như pho Tuyết Sơn, tượng bá Đại Hòa Thượng, tượng Bồ Tát Nam Hải Quan Thế Âm, tượng Bát Bộ Kim Cương, tượng Tứ Bồ Tát, tượng 2 Thái tử Thiện Hữu, Ác Hữu, tượng Bà Chúa Mía… Pho tượng Tuyết Sơn tượng trưng cho Đức Phật khi tu khổ hạnh ở Khổ Hạnh Lâm, vừa có cái gì rất gần gũi với chúng sinh, lại vừa có cái gì rất cao siêu mà muôn kiếp người thường không thể đạt tới được. Pho tượng Bá Đại Hòa Thượng đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc. Nét mặt luôn tươi cười hoan hỉ của đức Đại từ đủ làm tiêu tan mọi nổi u sầu của kiếp phù sinh, hoặc chí ít cũng làm thư giãn một phần nét mặt khắc khổ của người phàm trong cõi đời. Pho tượng Bồ Tát Nam Hải Quan Thế Âm có khuôn khổ khác thường. Tượng cao 120cm, có 12 cánh tay đan lồng vào nhau, tay giơ lên, tay buông xuống nhịp nhàng, tưởng chừng không có lúc nào dừng lại.

Ban thờ Đức Thánh Hiền.

Hệ thống tượng Phật cùng với công trình kiến trúc Chùa Mía đã được Bộ Văn Hóa Thông Tin đánh giá là một di tích đặc biệt quan trọng của cả nước. Hiện nay nhà Chùa cùng với địa phương được sự giúp đỡ chỉ đạo của ngành văn hóa thông tin đang từng bước tôn tạo để cho Chùa Mía xứng đáng với vị trí đặc biệt quan trọng mà Bộ Văn Hóa Thông Tin đã tôn vinh.

Đây là ngôi chùa lưu giữ nhiều tượng nghệ thuật nhất Việt Nam, do Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam công bố. Trên các bức tượng, mỗi vị mỗi vẻ, nhưng đều toát lên vẻ uy nghiêm, thanh tịnh.

Điều đặc biệt nhất là trong chùa còn có một tấm bia đá rất đẹp, cao 1,6m; rộng 1,2m và được đặt trên lưng một con rùa. Tấm bia đá được khắc năm 1634, nói về việc trùng tu chùa năm 1632. Tại tấm bia đá này cũng lưu trữ nhiều tài liệu quý báu mang giá trị lịch sử lớn lao của ngôi chùa. Với kiến trúc độc đáo và những tác phẩm điêu khắc có giá trị.

Ở dãy hành lang bên trái là 9 pho La Hán được tạo đắp diện tướng khác nhau, nhiều vẻ mặt nhưng đều với trạng thái từ bi đôn hậu. Dãy hành lang bên phải có 9 pho La Hán khác.

Nổi bật nhất trong chùa Mía là tượng Quan Âm Tống Tử (cao 0,76m), thường được gọi là tượng Bà Thị Kính. Tượng này diễn tả một người phụ nữ thùy mị, có duyên, vẻ mặt hơi buồn nhưng rất hiền từ nhân hậu, ẵm một đứa bé bụ bẫm kháu khỉnh. Đường nét chạm khắc mềm mại, trau truốt.

Ở chùa Trung có hai pho tượng Hộ Pháp lớn, một tượng ông Thiện (bên trái), một tượng ông Ác (bên phải).

Theo: phatgiao.org.vn

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *